Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh

Rate this post

Trả lời chỉ để tham khảo

Lời khuyên cho các giải pháp Trả lời câu hỏi đầu tiên: Khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 định nghĩa: 2. Thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh bằng trọng tài. Theo quy định trên thì thỏa thuận trọng tài được hình thành trên cơ sở ý chí tự nguyện của các bên, có sự thỏa thuận giữa ý chí (mong muốn bên trong) và sự thể hiện ý chí (hình thức bên ngoài) về việc sử dụng hợp đồng trọng tài. được sử dụng để giải quyết tranh chấp. Điều này xuất phát từ bản chất của thương vụ. Các bên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh. Do đó, đối với trường hợp của bạn, đây là thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp theo quy định tại mục 5 Luật trọng tài thương mại 2010. Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được ký kết trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp. 2. Trong trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là cá nhân chết, mất năng lực hành vi hành vi thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. 3. Khi một bên của thỏa thuận trọng tài là tổ chức chấm dứt hoạt động, phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức nhận quyền nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trả lời câu hỏi thứ hai: Điều 6. Tòa án từ chối thụ lý vụ việc có thỏa thuận trọng tài Khi các bên tranh chấp đã đạt được thỏa thuận trọng tài và một bên khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thi hành được. Điều 18. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu 1. Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài quy định tại Điều 2 của luật này. 2. Người thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 3. Người giao kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự. 4. Hình thức của thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của luật này. 5. Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, ép buộc trong quá trình giao kết thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu. 6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của luật. Theo quy định trên có nghĩa là sau khi có sự thỏa thuận thì việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của TTTM, nếu một trong các bên khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án nên từ chối thụ lý mà thôi. nếu thỏa thuận này không có hiệu lực thì thuộc thẩm quyền của Tòa án. Căn cứ quy định nêu trên, Tòa án chỉ thụ lý yêu cầu khởi kiện trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận này vô hiệu hoặc không có hiệu lực thi hành. Vì vậy, bên cạnh thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại mục 18 Luật TTTM 2010 thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu cũng được coi là thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Vấn đề này được quy định cụ thể tại các điểm 3,4,5 Điều 43 Luật TTTM 2010, đặc biệt là Điều 4 Nghị quyết 01/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định cụ thể thỏa thuận trọng tài không thể là trọng tài. hiệp định. bắt buộc khi thuộc một trong năm trường hợp sau: + Các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã kết thúc hoạt động mà không có tổ chức. Trọng tài viên kế nhiệm và các bên không được thoả thuận về việc lựa chọn trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp; + Các bên đã đạt được thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên vụ việc nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết vụ tranh chấp, vụ việc hoặc Trọng tài Trung tâm, Tòa án không tìm được Trọng tài viên theo thỏa thuận của các bên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác; + Các bên đã đạt được thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên vụ việc nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối chỉ định Trọng tài viên vụ việc. trọng tài viên và các bên không thoả thuận được việc chọn trọng tài viên khác để thay thế; + Các bên đã thoả thuận giải quyết tại Trung tâm trọng tài nhưng thoả thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài và quy chế của Trung tâm trọng tài đã thoả thuận. Trọng tài viên do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không được cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không được thoả thuận về việc lựa chọn Quy tắc trọng tài thay thế; + Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có thỏa thuận trọng tài được ghi trong điều kiện chung về việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn thảo quy định tại Điều 17 Luật TTTM 2010, nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý chọn Trọng tài viên để giải quyết tranh chấp.

Người trả lời: Trần Thanh Tùng

Chaolong TV cảm ơn bạn đã đọc bài viết Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh , hy vọng rằng những thông tin chúng tôi chia sẻ sẽ hữu ích cho bạn. Đừng quên Cháo Lòng TV là website trực tiếp bóng đá miễn phí, tốc độ cao, được yêu thích nhất hiện nay nhé !

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *