Soạn bài Các phương châm hội thoại Soạn văn 9 tập 1 bài 1 (trang 8)

Rate this post

Biết những châm ngôn hội thoại là điều cần thiết trong giao tiếp. Vì vậy, trong chương trình Ngữ văn lớp 9, các em sẽ được học về châm ngôn hội thoại.

Tạo phương châm hội thoại

Download.vn sẽ cung cấp tài liệu Sáng tác 9: Châm ngôn hội thoại. Mời các bạn đọc thông tin chi tiết bên dưới.

Chuẩn bị bài Các phương châm hội thoại – Ví dụ 1

I. Lý thuyết

1. Phương châm về lượng

– Trong khi giao tiếp cần nói có nội dung, nội dung phải phù hợp với yêu cầu giao tiếp.

– Nội dung không được thừa hoặc thiếu để tránh người nghe không hiểu hoặc hiểu sai ý của người nói.

2. Phương châm chất lượng

Khi giao tiếp cần tuân thủ phương châm về chất: Không nói những điều mình không tin là đúng, những điều không có bằng chứng xác thực.

II. Bài tập thực hành

Một. Gà là một loại gia cầm được nuôi ở nhà

b.

– Bố ơi, mặt trời mọc ở đâu?

– Mặt trời mọc đằng tây con ơi!

Câu 2. Đặt câu với từ: nói có sách, khuyên có chứng; nói dối; tò mò nói.

Gợi ý:

Câu hỏi 1.

Một. Phương châm lượng (gia cầm – cây nhà lá vườn)

Câu 2.

  • Tôi nói có sách, mách có chứng.
  • Anh nói dối cô về việc bị ốm.
  • Anh ấy nói vậy, nhưng anh ấy đã đúng.

Các phương châm viết hội thoại – Ví dụ 2

I. Phương châm về lượng

Đầu tiên. Đọc đoạn văn trong SGK và trả lời câu hỏi

– Khi An hỏi “bạn học bơi ở đâu” và Ba trả lời “ở dưới nước” thì câu trả lời không đáp ứng được điều An muốn biết (vậy An Ba học ở trung tâm dạy bơi nào, địa chỉ cụ thể ở đâu…).

– Em phải trả lời như: Em học bơi ở Cung văn hóa Hà Nội… (phải ghi rõ địa chỉ nơi dạy bơi).

Bài học: Khi giao tiếp cần nói có nội dung, tránh nói chệch hướng gây khó hiểu cho người khác.

2. Đọc truyện cười trong SGK và trả lời câu hỏi

* Chuyện vui rằng: Chàng áo lợn cưới một đằng, chàng đáp một nẻo. Cả hai đều muốn thể hiện sự giàu có của mình.

* Đặt và trả lời các câu hỏi sau:

* Yêu cầu: Nội dung giao tiếp không thừa cũng không thiếu.

II. Phương châm chất lượng

Đọc truyện trong SGK và trả lời câu hỏi.

– Truyện cười phê phán thói khoe khoang của con người.

– Trong giao tiếp: Cần tránh nói những điều mà người khác không tin hoặc không có bằng chứng rõ ràng.

III. LUYỆN TẬP

Câu hỏi 1. Dùng từ chỉ lượng để phân tích lỗi sai trong các câu sau:

Một. Con trâu là con vật nuôi trong nhà.

– Câu trên vi phạm mức tối đa khi có thừa nội dung.

– Chăn nuôi: Vốn chỉ vật nuôi trong nhà nên thành ngữ “home-bred” cũng không ngoa.

b. Con én là loài chim có hai cánh.

– Câu trên vi phạm mức tối đa khi có thừa nội dung.

– Tất cả các loài chim đều có hai cánh nên thành ngữ “hai cánh” là thừa.

Câu 2. Chọn từ đúng để điền vào chỗ trống.

– Đổ đầy:

Một. Nói có cơ sở vững chắc là nói có sách, có chứng.

b. Cố tình bóp méo, che giấu điều gì đó là nói dối.

c. Nói trắng ra là không có cơ sở để nói bất cứ điều gì.

d. Nói bậy, nói bậy là nói dối, nói bậy.

đ. Nói khoác, làm ra vẻ tài giỏi hay kể chuyện cười, khoe khoang cho vui là trạng thái.

– Các từ trên đều chỉ phương châm hội thoại về chất.

Câu 3. Đọc truyện cười trong sách giáo khoa và cho biết đoạn hội thoại nào không được tuân theo nhiều nhất.

– Trong truyện đã không tuân thủ châm ngôn hội thoại về lượng.

– Cậu bé trong câu chuyện hỏi một câu vô bổ. Nếu bà của bạn bạn không thể hỗ trợ cha anh ấy, thì tại sao ông ấy không thể có mặt.

Câu 4. Sử dụng các châm ngôn hội thoại đã học để giải thích tại sao đôi khi người nói phải sử dụng các cách diễn đạt như:

Một. Theo những gì tôi biết, tôi tin rằng, nếu tôi không nhầm…

Cách diễn đạt trên có nghĩa là phù hợp với chất lượng tối đa khi người nói không chắc chắn về chủ đề hiện tại.

b. như tôi đã nói, như mọi người đều biết.

Cách diễn đạt trên nhằm tránh vi phạm phương châm về lượng, khi nói đến những vấn đề nổi tiếng mà người khác đã biết thì không cần nhắc lại, làm cho nội dung trở nên thừa.

Câu 5. Giải thích nghĩa của các thành ngữ và cho biết các thành ngữ đó có quan hệ với những thành ngữ nào:

– chuyện tầm phào: vu khống, đưa đồ cho người khác

– ăn ốc nói tiếng: nói không bằng đất, tai họa tru tréo.

– ăn không nói có: những điều không có thật.

– cãi, cãi: cố cãi cho dù chẳng có lý do gì

– môi nhăn lại: người ba hoa, khoác lác

– nói dơi nói chuột: nói bậy, nói bậy, nói bậy

– lời hươu hứa vượn: lời hứa nói ra rồi để đó, nhưng không thực hiện được.

Các thành ngữ trên đều vi phạm phương châm về chất (nói mà không có bằng chứng xác thực).

IV. Bài tập thực hành

Đọc truyện cười dưới đây và cho biết truyện vi phạm châm ngôn hội thoại nào?

Nói rằng nó có đầu và đuôi

Lão phú hộ đó có một người hầu hết sức bốc đồng, xem ông ta nói gì thì nói ở đâu cũng nói, không đầu không đuôi gì cả. Ông già gọi anh ta và nói:

– Anh ăn nói vớ vẩn, người ta cười anh với em. Từ giờ trở đi, tôi có thể nói gì để có đầu và đuôi?

Người hầu nói phải.

Một hôm, ông lão mặc quần áo chuẩn bị ra ngoài, đang ngồi hút thuốc thì thấy người đầy tớ đứng chắp tay trịnh trọng nói:

– Thưa ông, con tằm đẻ ra tơ, người ta đem tơ bán cho Tàu, Tàu dệt thành lụa bán cho ta. Anh đi mua về may thành áo. Hôm nay anh mặc áo sơ mi, hút thuốc. Tàn thuốc lá rơi xuống áo sơ mi của anh ấy và chiếc áo sơ mi của anh ấy bốc cháy…

Ông lão ngạc nhiên nhìn xuống, chiếc áo to bằng bàn tay.

(trò đùa phổ biến của Việt Nam)

Gợi ý:

– Cậu bé trong truyện đã vi phạm phương châm về lượng.

– Ông nói quá nội dung (quy trình làm áo) khi muốn thông báo cho người chủ biết chiếc áo của mình bị cháy: “…con tằm ra tơ, người ta đem tơ bán cho Tàu, Tàu dệt thành mảnh và sau đó họ bán nó cho chúng tôi. Anh đi mua về may thành áo. Hôm nay anh mặc áo sơ mi, hút thuốc. Tàn thuốc lá rơi trên áo của bạn…”

=> Yếu tố gây cười cho câu chuyện.

Soạn bài Các phương châm hội thoại – Mẫu 3

Tôi thực hành

Câu hỏi 1. Dùng từ chỉ lượng để phân tích lỗi sai trong các câu sau:

Một. Con trâu là con vật nuôi trong nhà.

Vi phạm số lượng tối đa.

– Chăn nuôi: vật nuôi trong nhà thôi, “nhà nuôi” là nội dung thừa.

b. Con én là loài chim có hai cánh.

– Vi phạm số lượng tối đa

– Loài chim nào cũng có hai cánh nên thành ngữ “hai cánh” là nói quá.

Câu 2. Chọn từ đúng để điền vào chỗ trống.

Một. nói chuyện với các đề xuất được chứng nhận.

b. nói dối.

c. tò mò nói.

d. nói dối, nói nhảm.

đ. cho tôi biết tình trạng

=> Các từ trên đều chỉ phương châm hội thoại về chất.

Câu 3. Đọc truyện cười trong sách giáo khoa và cho biết đoạn hội thoại nào không được tuân theo nhiều nhất.

– Trong truyện đã không tuân thủ châm ngôn hội thoại về lượng.

– Cậu bé trong câu chuyện hỏi một câu vô bổ. Nếu bà của bạn bạn không thể hỗ trợ cha anh ấy, thì tại sao ông ấy không thể có mặt.

Câu 4. Sử dụng các châm ngôn hội thoại đã học để giải thích tại sao đôi khi người nói phải sử dụng các cách diễn đạt như:

Một. Theo những gì tôi biết, tôi tin rằng, nếu tôi không nhầm…

Cách diễn đạt trên có nghĩa là phù hợp với chất lượng tối đa khi người nói không chắc chắn về chủ đề hiện tại.

b. như tôi đã nói, như mọi người đều biết.

Cách diễn đạt trên nhằm tránh vi phạm phương châm về lượng, khi nói đến vấn đề đã biết mà người khác đã biết thì không cần nhắc lại, làm cho nội dung trở nên dư thừa.

Câu 5. Giải thích nghĩa của các thành ngữ và cho biết các thành ngữ đó có quan hệ với những thành ngữ nào:

– chuyện tầm phào: vu khống, đưa đồ cho người khác

– ăn ốc nói tiếng: nói không bằng đất, tai họa tru tréo.

– ăn không nói có: những điều không có thật.

– cãi, cãi: cố cãi cho dù chẳng có lý do gì

– môi nhăn lại: người ba hoa, khoác lác

– nói dơi nói chuột: nói bậy, nói bậy, nói bậy

– lời hươu hứa vượn: lời hứa nói ra rồi để đó, nhưng không thực hiện được.

=> Các thành ngữ trên đều vi phạm phương châm về chất (nói mà không có bằng chứng xác thực).

II. Bài tập thực hành

Câu hỏi 1. Những câu châm ngôn nào sau đây vi phạm?

Một. Kể từ đó, anh ấy nói chuyện vô nghĩa.

b.

– Hoàng, mấy giờ em đi học?

– Tôi đi học lúc sáu giờ khi anh trai tôi vẫn chưa thức dậy!

Câu 2. Đọc câu chuyện dưới đây và cho biết nhân vật trong truyện đã vi phạm châm ngôn đối thoại nào?

trứng vịt muối

Hai anh em vào nhà hàng ăn cơm. Quán có phục vụ cơm hột vịt muối. Anh tôi hỏi tôi:

– Cũng là trứng vịt lộn mà sao quả này mặn?

– Anh hỏi cái này người ta cười cho đấy. – cho biết người đàn ông. – Trứng vịt muối không biết.

– Trứng vịt muối có nguồn gốc từ đâu?

Người anh giả vờ biết, nói:

– Anh hư lắm! Mặc dù vậy, tôi không biết. Vịt mặn nó đẻ trứng mặn.

(Theo Truyện cười dân gian Việt Nam)

Gợi ý:

Câu hỏi 1.

Một. Phương châm chất lượng

b. Phương châm số lượng (nội dung quá mức: khi anh tôi chưa tỉnh)

Câu 2.

Nhân vật người Anh đã vi phạm chất lượng tối đa. Người anh đề cập đến một vấn đề không đúng: vịt ăn mặn đẻ ra trứng muối.

Chaolong TV cảm ơn bạn đã đọc bài viết Soạn bài Các phương châm hội thoại Soạn văn 9 tập 1 bài 1 (trang 8) , hy vọng rằng những thông tin chúng tôi chia sẻ sẽ hữu ích cho bạn. Đừng quên Cháo Lòng TV là website trực tiếp bóng đá miễn phí, tốc độ cao, được yêu thích nhất hiện nay nhé !

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *